Tất cả những người đời nay đều gấp cầu danh vọng và quan tước.
Chủ đề
Hán Học Danh Ngôn
572 danh ngôn trong chủ đề Hán Học Danh Ngôn
Gần nước biết tính cá, gần núi hiểu tiếng chim.
Nghèo khó tự tại thung dung, giàu sang lắm nỗi mông lung ưu sầu.
Lầu gần mặt nước sớm trăng, cây gần ánh nắng chồi xuân nẩy nhiều.
Thiên hạ đều vì lợi mà xô đẩy nhau đi, thiên hạ đều vì lợi mà đua chen nhau lại.
Nước trôi cuối bãi đâu tình ý, mây tụ đầu non vốn tự nhiên.
Thiên hạ thật không có cảnh ngộ nào dễ xử, nhân gian thật không có thì giờ nào là bỏ đi.
Cũng một chữ “tình” đem dùng cho quốc gia, xã hội, thì hay vô cùng, đem dùng ở chốn nguyệt hoa, thì có khi thiệt mạng.
Dân nghèo thì mưu trí xảo trá phát sinh.
Kẻ dũng mà ghét sự nghèo hèn của mình thì dễ làm loạn. Kẻ bất nhân mà bị ghét bỏ quá mức cũng dễ làm loạn.
Người sinh ở đời, thế lực, chức vị và tiền của có thể coi thường được đâu!
Người “trí” hay lo, người “nghĩa” hay làm, người “nhân” hay trì thủ.
Khi mới sinh ra, tính nết người ta gần giống nhau, về sau tập quán khác nhau nên tính tình sẽ khác xa nhau.
Ngựa không sức chạy do gầy yếu, người chẳng phong lưu chỉ vì nghèo.
Dụng ý trồng hoa hoa chẳng mọc, vô tâm cắm liễu liễu lên um.
Nước lấy nhà làm gốc.
Xa xỉ thì dễ hoá ra kiêu ngạo, kiệm phác thì dễ hoá ra quê mùa. Thà chịu tiếng quê mùa còn hơn là kiêu ngạo.
Không phấn phát (1) thì một ngày một lười nản; không kiềm thúc (2) thì một ngày một dông dài. (1) Phấn phát: Cố gắng. (2) Kiềm thúc: Xem xét giữ gìn.
Không xấu với miệng, chẳng bằng không xấu với thân; không xấu với thân, chẳng bằng không xấu với tâm. (Không nói bậy, chẳng bằng không làm bậy; không làm bậy, chẳng bằng không nghĩ bậy.)
Người tốt làm thầy cho người chẳng tốt (bắt chước cái tốt); còn người chẳng tốt thì làm cho người tốt cũng được nhờ (vì thấy cái xấu mà răn mình).